Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

Bí ẩn cột rồng đá khổng lồ ngàn tuổi ở Bắc Ninh

Có một điều kỳ thú khiến các nhà khoa học say mê tìm hiểu, đó là làm cách nào Du lich campuchia mà người xưa, với công cụ thô sơ đã vận chuyển được khối đá khổng lồ này lên gần đỉnh núi Dạm? Theo tính toán thì cột đá này nặng ít nhất 54 tấn.

< Chùa Dạm hay còn gọi là chùa Rạm là đại danh lam từ thời Lý, một di tích quan trọng của tỉnh Bắc Ninh với lịch sử gần 1.000 năm.

Kinh Bắc là vùng đất cổ kính, với dày đặc các di tích lịch sử xếp hạng quốc gia. Tuy nhiên, trong một báo cáo đề xuất công nhận bảo vật quốc gia gửi đến Cục Di dản Văn hóa, Bảo tàng Bắc Ninh lại chọn cột đá chùa Dạm là bảo vật đứng đầu. Vậy cái cột đá chưa mấy ai biết đến đó có gì đặc biệt, được coi trọng như thế?

< Cột đá chạm rồng uy nghi và bí ẩn trên núi Đại Lãm.

Những ngày đầu năm Nhâm Thìn này, tôi đã tìm về chùa Dạm, để được tận mắt cột rồng đá, bảo vật hàng đầu của tỉnh Bắc Ninh.

Chùa Dạm, dù tôi chưa đến bao giờ, song khi xướng cái tên đó lên, lại có vẻ như thân thuộc lắm. Người tứ phương, xe cộ nườm nượp đổ về quả núi Đại Lãm, thuộc xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Tôi cũng hòa theo dòng người đó đến núi Đại Lãm. Nhưng hóa ra, dòng người đổ về chùa Hàm Du lich nha trang Long, nằm trên sườn Bắc núi Đại Lãm.

< Một cột đá lớn nguyên khối được chôn sâu chìm xuống nằm đối mặt với chùa Dạm có nhiều hoạ tiết độc đáo, biểu hiện sinh thực khí trời. Cột đá cao gần 5 m, được đặt trên khối vuông bằng đá, đường kính khoảng 1,3 m.

Lên chùa Dạm có 2 đường, một đường đi bộ theo các bậc đá quanh co từ chân lên đến đỉnh núi, một đường xe ủi mới mở chạy thẳng lên chùa. Cả hai đường đều vắng quay vắng quắt, chẳng có bóng người. Ngôi chùa tuềnh toàng, tạm bợ, nhỏ xíu cũng cửa khóa, chẳng có ai. Giờ tôi mới hiểu, chùa Dạm chỉ còn là thứ trong sách vở.

Thứ tôi cần tìm nằm uy nghi ngay cuối con đường mới mở từ chân núi lên tận ngôi chùa Dạm dựng lại tạm bợ. Tôi thực sự sững sờ trước một tuyệt tác đã đứng đó gần 1.000 năm. Trải bao mưa nắng, trơ gan cùng tuế nguyệt, công trình điêu khắc độc nhất vô nhị này vẫn chứa đựng những bí mật chưa được khám phá.

Thật không quá lời, khi các cán bộ Bảo tàng Bắc Ninh khẳng định rằng, cột đá chùa Dạm là công trình nghệ thuật đặc sắc bậc nhất thời Lý còn lưu truyền cho hậu thế.

< Trên cột đá chạm nổi đôi rồng phong cách thời Lý đầu vươn cao chầu vào viên ngọc tỏa sáng, thân quấn quanh cột, đuôi ngoắc vào nhau.

Lang thang loanh Du lich da lat quanh khu vực núi Dạm, tôi gặp được cụ Nguyễn Thị Thập. Cụ Thập là Phật tử, thường xuyên lên chùa lau dọn, trông giữ những di vật để ngổn ngang, dãi dầu mưa nắng. Theo cụ Thập, truyền thuyết trong làng đều khẳng định rằng, cột đá chạm rồng có từ thời Lý.
Theo truyền thuyết, người phương Bắc đã trấn yểm linh hồn Cao Biền ở quả núi Dạm. Vì muốn xâm lược nước ta, nên tìm cách khiến Cao Biền sống dậy.

Họ đã mang 100 nén hương đến nhờ một người dân trong vùng đốt ở núi này. Khi đốt xong nén hương cuối cùng, Cao Biền sẽ sống dậy và nhà Lý sẽ sụp đổ, nước Nam sẽ về tay phương Bắc. Biết ý đồ xấu của họ, nên người này đã đốt luôn 100 nén cùng lúc, khiến Cao Biền không sống lại được. Cột đá được dựng lên vừa để tưởng nhớ người dân anh dũng kia, vừa là biểu tượng của sự vững bền.

< Những lỗ hình chữ nhật để kê trụ đỡ?

Chẳng thế mà, như lời hòa thượng Thích Thanh Dũng (trụ trì chùa Hàm Long kiêm chùa Dạm), dù trải ngàn Du lich phu quoc năm, đổi thay thế sự, chùa bị nhiều đời phá hoại, nhưng cột đá vẫn vẹn nguyên. Các cụ truyền rằng, hễ ai động đến cột đá, lập tức thần sét sẽ giáng đòn chí mạng vào đầu. Chẳng ai dám động vào cái cột đá kỳ bí ấy.

Theo hòa thượng, các nhà khoa học đo đạc thấy rằng, không tính phần chôn sâu dưới đất, cột đá này cao 5m. Cấu trúc điêu khắc chia cột làm 2 phần. Phần dưới hình vuông, phần trên hình tròn. Có thể điều này biểu trưng cho quan niệm trời tròn đất vuông của cha ông ta.

Khối hộp vuông phía dưới có tiết diện một cạnh 1,4m và một cạnh 1,6m. Phần tròn trên thu nhỏ hơn một chút, nhưng đường kính cũng tới 1,3m.

< Những nét chạm khắc tinh xảo.

Điểm nhấn của phần tròn và cũng là của toàn bộ cột đá này chính là tác phẩm điêu khắc rồng đá theo phong cách thời Lý. Thời Trần, Lê sau này điêu khắc rồng mang tính cách điệu cao, nhưng thời Lý thì rất chi tiết, tỉ mỉ. Đôi rồng với vuốt 5 móng sắc nhọn, bờm thành búi, thân giống rắn quấn chặt cột đá, đuôi ngoắc vào nhau, miệng ngậm ngọc, đầu vươn cao chầu mặt trời vừa uy nghi vừa sinh động.

Đứng từ xa nhìn lại, thấy cột đá hiên ngang trên sườn núi, tiến lại gần thấy cột đá vô cùng hoành tráng nhưng cũng không kém phần tinh xảo.

< Thân giống rắn.

Một số nhà nghiên cứu khi xem xét đã cho rằng, cột đá này mang tiểu tượng Linga của văn hóa Champa. Cột đá biểu tượng cho sự sinh sôi, nảy nở, cầu mưa thuận gió hòa.
Tuy nhiên, hầu hết các nhà nghiên cứu của nước Du lich mien trung ta, như TS Lê Đình Phụng (Viện Khảo cổ), ông Nguyễn Hùng Vĩ (giảng viên Trường ĐH KHXH&NV) đều bác bỏ thông tin cho rằng cột đá là một cái Linga. Các nhà nghiên cứu đều cho rằng, qua 6 lỗ hình chữ nhật (đặt dầm chịu lực) ở gần đỉnh cột, có thể tin rằng cột đá là trụ đỡ của một kiến trúc nào đó.

< Những bức tường kè đá vô cùng hoành tráng.

TS. Phụng tin rằng, cột đá này có liên hệ với ngôi chùa Một Cột ở Thăng Long. Vua Lý Thánh Tông đã xây chùa Một Cột sau giấc mơ hoa sen, và người con của ông, vua Lý Nhân Tông cũng có thể dựng một ngôi chùa nữa như phiên bản trên núi Đại Lãm. Theo đó, trên cột đá chùa Dạm người ta thờ Phật Quan Âm – gắn liền với hình ảnh hoa sen.

Nhưng cũng có giả thuyết khác cho rằng, trên đỉnh cột đá là tòa sen. Hình tượng rồng đội tòa sen là mô típ rất phổ biến ở trong các ngôi chùa Việt.
Có một điều kỳ thú khiến các nhà khoa học say mê tìm hiểu, đó là làm cách nào mà người xưa, với công cụ thô sơ đã vận chuyển được khối đá khổng lồ này lên gần đỉnh núi Dạm? Theo tính toán, cột đá này nặng ít nhất 54 tấn.


< Tấm bia Hậu Lê ghi lại lịch sử chùa Dạm.

Loại đá làm cột này không có trong vùng Bắc Ninh, mà phổ biến ở vùng Hải Dương, Quảng Ninh. Các nhà khoa học cho rằng, người xưa đã vận chuyển cột đá theo đường Du lich ha long sông Hồng, rồi đào ngòi Con Tên đến tận chân núi để kéo khối đá. Sau đó, họ mở một con đường dẫn lên núi mà độ dốc ở mức tối thiểu. Những khúc gỗ làm dầm chịu lực phải là loại gỗ lim hoặc cứng tương đương và số người thực hiện vận chuyển khối đá này phải lên đến cả trăm người, cùng trâu mộng, voi, ngựa.

Cùng với cột đá khổng lồ, quả núi Dạm từng tồn tại một ngôi chùa vô cùng hoành tráng. Trải qua chiến tranh loạn lạc, rồi tiêu thổ kháng chiến thời Pháp, ngôi chùa đã bị phá hủy hoàn toàn.

Hòa thượng Thích Thanh Dũng cho biết, chùa Dạm còn có nhiều tên khác nhau như là Đại Lãm, Cảnh Long Đồng Khánh tự, chùa Tấm Cám. Gọi là chùa Tấm Cám, vì chùa được khởi dựng để làm nơi tu hành của Nguyên Phi Ỷ Lan, cũng là nơi khởi nguồn truyện cổ tích Tấm Cám.

< Nền đất xung quanh có nhiều viên gạch được trạm trổ tinh xảo. Các nhà khảo cổ học đã đào nhiều hố thám sát ở di tích chùa Dạm.

Trên núi hiện còn một cái giếng có tên gọi là Bống. Hiện tại, nền thứ ba và bốn của ngôi chùa vẫn còn dấu tích chùa và đền thờ Bà Tấm – Nguyên phi Ỷ Lan.

Chùa Dạm được xây dựng vào năm 1086. Sau hơn 10 năm xây dựng, năm 1097 chùa Dạm mới hoàn thành. Vua Lý đã đặt tên chùa là Cảnh Long Đồng Khánh, ban 300 mẫu tự điền (ruộng thuộc nhà chùa) để chùa có hoa lợi.

< Phần dưới cột đá hình vuông, phần trên hình tròn biểu tượng “trời tròn đất vuông”?

Chùa Dạm được xây dựng trên diện tích trên 2 mẫu Bắc Bộ, với 4 cấp cao dần lên đỉnh núi. Các cấp nền đều có xếp đá lớn chống xói lở, cao tới 6-7m. Ngôi chùa này cũng từng được gọi là chùa Trăm Gian, vì chùa rất rộng lớn, với hàng trăm gian nhà.

Tuy nhiên, giờ đây, thứ còn lại của ngôi chùa khổng lồ khi xưa chỉ là cột đá chạm rồng, cùng những bức tường đá vĩ đại kè núi. Nhìn những bức tường xếp đá khổng lồ như tường thành vẫn còn lại đến ngày nay có thể hình dung được sự hoành tráng của ngôi chùa này.

Cũng theo hòa thượng Thích Thanh Dũng, Nhà nước đã có dự án phục dựng lại chùa Dạm. Đây là dự án khổng lồ, ngốn kinh phí hàng trăm tỷ đồng. Hiện tại, việc khai quật khảo cổ đã hoàn tất và sẽ triển khai dựng chùa trong thời gian không xa. Với chùa Dạm, Bắc Ninh sẽ lại có một Du lich trong nuoc công trình đồ sộ phục vụ Phật tử cả nước.

Vượt Hải Vân bằng xe lửa

Cung đường sắt Hải Vân vượt qua đèo từ Đà Nẵng đến Thừa Thiên - Huế (và ngược lại), Du lich mien trung có độ dốc lớn, nhiều khúc quanh co với bán kính nhỏ. Tuy nhiên, du khách đi tàu có thể ngắm nhìn cảnh thiên nhiên hùng vĩ tuyệt đẹp.  

< Góc cua rất gấp, có thể nhìn thấy cả đoàn tàu.

Đèo Hải Vân là con đèo trên dãy núi thuộc dãy Trường Sơn ở miền trung Việt Nam, là ranh giới giữa  tỉnh Thừa Thiên - Huế ở phía bắc và thành phố Đà Nẵng ở phía Nam. Hải Vân là con đèo hiểm trở bậc nhất trên con đường thiên lý Bắc- Nam từ xưa.

Đây cũng là một vị trí địa lý hiểm yếu do kiến tạo địa chất của dãy núi cắt ngang đất nước từ biên giới phía Tây tới sát biển phía Đông.

< Tàu lên dốc và đi xuyên hầm qua núi (Địa phận Hải Vân Nam- Đà Nẵng)

< Có những đoạn tàu đi sát ra biển (Địa phận Hải Vân Nam - Đà Nẵng).

Đèo Hải Vân có chiều dài 21km, đỉnh cao nhất là 496m so với mực nước biển. Du lich campuchia Giao thông qua đèo Hải Vân khó khăn đối với đường bộ và đường sắt do địa hình hiểm trở.

< Một bên là vách núi, bên kia là vực sâu.

Cung đường sắt Hải Vân là vượt qua đèo từ Đà Nẵng đến Thừa Thiên - Huế (và ngược lại), qua các ga: Kim Liên, Hải Vân Nam (thuộc Đà Nẵng), Hải Vân (nằm giữa đèo), Hải Vân Bắc, Lăng Cô (thuộc Thừa Thiên - Huế).

< Cảnh thiên nhiên hùng vỹ và kỳ thú (chặng Hải Vân - Hải Vân Bắc).

< Một dòng suối chảy ra biển.

< Nhà ga ở địa phận bắc Hải Vân. Đây là trạm kỹ thuật và nơi tránh tàu.

Trong đó các ga Kim Liên và Lăng Cô nằm hai bên chân đèo; Du lich nha trang còn các ga Hải Vân Nam, Hải Vân, Hải Vân Bắc thuộc đèo.

Cung đường sắt Hải Vân nằm phía đông trục đường bộ (Quốc lộ 1), sát biển, đi trên triền núi, qua 18 cầu và 6 hầm chui, trong đó hầm ngắn nhất là 85m, hầm dài nhất là 600m.

Cung Hải Vân có độ dốc lớn, nhiều khúc quanh co với bán kính nhỏ. Trước kia, khi các đoàn tàu vượt Hải Vân, ngành đường sắt dùng đầu máy hơi nước hay các đầu máy diesel thế hệ cũ đều phải tăng cường thêm một đầu máy đẩy. Tàu qua Hải Vân đi với một tốc độ rất chậm…

Trên cung đường Hải Vân, du khách đi tàu có thể ngắm nhìn cảnh thiên nhiên hùng vĩ tuyệt đẹp. Từ trên tàu có thể thấy những vách núi dựng đứng ở phía Tây và biển Đông ngay sát dưới chân; từ cửa sổ toa tàu có thể nhìn thấy cả đoàn tàu đang uốn lượn men theo triền núi.

< Đoạn đường Lăng Cô, đã qua con đèo, độ cao tuyến đường sắt gần với mực nước biển.

Cho dù hiện nay đường bộ đã có hầm Hải Vân xuyên qua núi thì nhiều người vẫn chọn Du lich da lat cách đi tàu để có thể thưởng ngoạn phong cảnh kỳ thú của Hải Vân – nơi giao thoa giữa hai miền Nam- Bắc, nơi được mệnh danh là “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”.

Thứ Tư, 15 tháng 2, 2012

Đến quán Âm Phủ ăn cơm trần gian

 Huế và TP Hồ Chí Minh có 2 quán cơm mà thương hiệu của nó do chính thực khách đặt tên: Âm Phủ Du lich mien trung . Lạ là cả 2 quán này đều đã có bề dày ngót gần cả thế kỷ, không chỉ được du khách trong nước mà cả người nước ngoài cũng biết đến.

1. Quán Âm Phủ ở Huế do một doanh nhân thuộc hàng vọng tộc – ông Tống Phước Kỳ - khai sinh những năm 1914 – 1918 cùng với sân vận động (SVĐ) Bảo Long, tên của con vua Bảo Đại. Ban đầu, quán có tên Đất Mới, do nằm trong vùng đồng hoang An Cựu. Sau, SVĐ đổi tên Tự Do, quán cũng đổi tên thành Âm Phủ. Tên Âm Phủ, do quán mở vào đêm khuya, leo lắt bóng đèn dầu, chỉ độc món cơm chiên.
Nói cơm chiên, nhưng thực chất là cơm trộn với các món ăn thừa của các hiệu cơm Tây gần Morin thải ra, đem chiên xào lại...

Gọi cơm xà bần chiên cũng được vì chuyên bán cho giới bình dân ăn khuya như phu kéo xe, gái làng chơi quanh khu đồn Tây đóng hoặc những người đi xem hát bội rạp Bà Tuần hay chơi cine rạp Tân Tân về khuya đói bụng. Lần hồi quán nổi tiếng, thu hút thêm khách vãng lai.


Thời Huế khó khăn, cơm Âm Phủ trở thành quán cơm xã hội bán giá bình dân. Còn là điểm đến của nhiều văn nghệ sỹ nên quán cơm Âm phủ đã đi vào văn học, Du lich ha long bắt đầu là văn hóa dân gian, với bài vè Thất thủ kinh đô do cụ Mới, bị mù, dùng hai nang tre kẹp vào nhau để đệm âm thanh, nói vè trên các ngả đường:

Kể từ ngày thất thủ kinh đô,
Tây qua giăng dây thép, họa địa đồ nước Nam
Lên dinh ở tới Tòa Khâm
Chén cơm Âm phủ áo dầm mồ hôi

Chén cơm quán  Âm phủ chan mồ hôi, nước mắt những kẻ cơ hàn, những lãng tử không nhà nên cũng trở thành nổi tiếng như  những “thương hiệu” khác: chè bắp Cồn Hến, bánh bèo Tây Thượng, bánh canh Nam Phổ, cơm sen Tịnh Tâm, xôi gà Nguyệt Biều, bánh ướt Kim Long... mà những nhà thơ gốc Huế như Trụ Vũ, Hỷ Khương... từng làm thơ ca ngợi. Nhà thơ Hữu Thụ, trong một bài vè có đoạn: Muốn ăn cơm dĩa trữ tình, có quán Âm phủ ma rình phía sau.

Âm phủ nhưng bán cơm trần gian. Vì nay, trên cái nền cũ đã là Nhà hàng Âm phủ - số 35, Du lich trong nuoc Nguyễn Thái Học (Huế) – mở cửa từ sáng đến khuya và còn xuất hiện đậm nét trên các guide book để chào tour. Vẫn còn lưu giữ món cơm chiên “cổ truyền” thời đói khổ, nhưng đã xuất hiện rất nhiều món tân kỳ như mép môi bò chấm với mắm sò hay món nướng kiểu Hibachi...

Hiện tại, đây là điểm đến quen thuộc với các đoàn khách đến Huế.

2. Quán Âm Phủ của TPHCM ra đời cùng thời với ngôi chùa Vĩnh Nghiêm nằm trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Gần chùa, nơi con dốc xuống bến tắm ngựa, có một quán bán các món chay trong nhà.

Quán không bán cơm, chỉ bán mì, cháo, cari, cuốn và sữa đậu nành nguyên chất. Quán do ông bà cụ thân sinh của cô Bé mở, nên khách quen gọi là quán Âm Phủ cô Bé. Tên Âm Phủ chính thức xuất hiện từ hôm cô Bé thay chỗ bà cụ quản lí quán, với một nguyên tắc “bất di bất dịch”:Du lich thai lan tất cả các nồi soong thức ăn dù đã sẵn sàng, lớp lớp khách đã ngồi chờ, nhưng cô cứ đủng đỉnh chờ đúng 9 giờ cô mới chịu múc thức ăn dù khách có năn nỉ mấy cũng mặc.

Khách đến theo từng đoàn, theo giờ lao động, kéo dài từ tối đến 2 giờ sáng mới chấm dứt. Tuy là món chay, nhưng hấp dẫn đậm đà hơn cả món mặn, giá lại bình dân: mỗi tô bình quân 8.000 đồng, nóng sốt, ngon bổ và rất sạch. Chỉ ngặt một điều, khách Tây “cao giò cao cẳng” vào quán phải ngồi ghế thấp nên rất khó xoay trở...

Khác với quán Âm Phủ ở Huế, quán Âm Phủ giữa Sài Gòn vẫn chưa chịu... bán cơm trần gian.

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Miếu Hòn Bà Vũng Tàu - Điểm du lịch tâm linh

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Hiệp hội Du lịch tỉnh BR-VT phối hợp với Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm khoa học “Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - Du lich mien trung văn hóa miếu Hòn Bà” nhằm bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa miếu Hòn Bà phục vụ phát triển du lịch tâm linh tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

< Hòn Bà lúc triều cao.

Bà  Rịa - Vũng Tàu là địa phương đứng thứ hai khu vực miền Đông Nam Bộ về số lượng di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh. Trong số đó, có nhiều đình, đền thờ, chùa, miếu… là điểm đến hấp dẫn khách hành hương.

Du lịch tâm linh là loại hình du lịch đặc biệt của Bà Rịa -Vũng Tàu, luôn có sức hấp dẫn riêng với du khách gần xa, thu hút du khách vào mọi thời điểm trong năm, nhưng nhiều nhất vẫn là vào dịp cuối năm và đầu năm mới.

< ... và khi triều thấp.

Theo đường Hạ Long vòng quanh núi nhỏ từ bãi Trước, qua Bãi Dứa đến mũi Nghinh Phong nhìn ra biển, một hòn đảo nhỏ cách chân núi Nhỏ khoảng 200 mét, đó là Hòn Bà. Hòn đảo nhỏ ấy  đã nằm vững chãi giữa muôn trùng khơi, đồng hành cùng những con sóng vỗ rì rào, Du lich thai lan tung bọt trắng xóa. Tương truyền vào những năm 1881, Hòn Bà được một người gốc miền Trung bỏ kinh phí xây dựng một ngôi Miếu nhỏ trên đảo gọi là Miếu Bà, Thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nước ta Pháp đặt tên cho hòn đảo này là Archi-nard.

Tuy nhiên hòn đảo nhỏ vẫn mang cho mình một cái tên giản dị từ xưa kia và nổi tiếng đến tận bây giờ “Hòn Bà”. Về sau, một người ở Trà Vinh tên là Thanh Phong đến Bà Rịa - Vũng Tàu lập nghiệp đã đứng ra quyên góp tiền của để sửa chữa miếu này vào năm 1971.

Hiện nay, ngôi miếu có chiều cao nổi trên mặt nước là 4mét. Bên trong là điện thờ các vị thần linh; bên dưới có một tầng hầm dài 6mét, rộng 3mét. Đây từng là nơi hội họp bí mật của đồng bào chiến sĩ yêu nước thời kỳ kháng chiến.

Khác với những cảnh quan thiên nhiên khác được con người trùng tu, xây dựng đổi mới hiện đại, Hòn Bà vẫn giữ cho mình nét đẹp hoang sơ, thiên nhiên thơ mộng hữu tình. Bên cạnh vẻ đẹp hoang sơ và lãng mạn của hòn đảo nhỏ, thì Hòn Bà còn là nơi rất linh thiêng thu hút rất nhiều người dân địa phương và du khách tới đây hành hương. Vào những ngày rằm hàng tháng (đặc biệt là rằm tháng riêng, rằm tháng bảy) hàng ngàn người dân địa phương và du khách thập phương đã hành hương viếng miếu Hòn Bà.

Lúc thuỷ triếu xuống thấp có thể men theo một  lối đá gập ghềnh để đi bộ ra đảo hoặc là đi thuyền, ghe khi nước lớn. Du khách phải vượt qua một bãi đầy những con hàu dài, rộng, gập ghềnh để ra viếng miếu. Nước biển nơi đây trong vắt, mát lạnh, phản chiếu xa xa là những phiến đá đủ kích cỡ với hình dáng lạ mắt, những viên sỏi nhỏ nằm rải rác trên khắp bờ biển…

Sự kết hợp hoàn hảo giữa đá và biển tạo nên nét đặc trưng của Hòn Bà. Vào những lúc bình minh hay hoàng hôn, Du lich trong nuoc Hòn Bà lại càng mang cho mình vẻ đẹp rực rỡ do những ánh nắng nhẹ phản chiếu, lung linh mờ ảo. Đặc biệt vào những đêm trăng sáng, Hòn Bà hiện ra như một bức tranh thủy mạc lung linh, kỳ bí, quyến rũ vô cùng. Những ánh sáng của ánh trăng chiếu xuống mặt biển tỏa quanh Hòn Bà như viên ngọc bừng sáng giữa biển khơi.

Hòn Bà vốn là một thắng cảnh hữu tình bởi dáng vẻ nhỏ xinh duyên dáng như một thiếu nữ tuổi tròn trăng. Những ngày nắng ấm chan hoà, Hòn Bà trở nên lấp lánh, long lanh, mang dáng vẻ của một cô gái năng động. và khi chiều xuống, Hòn Bà nằm giữa trời xanh nước biếc, sóng vỗ trắng xoá miên man, cảnh buồn xao xuyến, chút cô miên chen lẫn trong lòng. Hoàng hôn bao trùm cảnh vật, tiếng chuông theo gió thanh tao, cảnh trở nên thần tiên huyền bí.

Miếu Hòn Bà chứa đựng yếu tố văn hóa biển, phản ánh quá trình lao động, nghề nghiệp và đời sống văn hóa, tinh thần của cư dân Vũng Tàu. Hòn Bà cùng với mũi Nghinh Phong - núi Nhỏ, bãi Vọng Nguyệt (khu vực bãi biển mũi Nghinh Phong) và Bãi Sau tạo thành quần thể cảnh quan sơn thủy, biển đảo đẹp nhất của TP. Vũng Tàu, là một địa chỉ vừa chứa đựng những giá trị nhân văn, vừa là thắng cảnh độc đáo, có thể xây dựng thành sản phẩm văn hóa, du lịch đặc trưng của tỉnh.

Việc đầu tư,Du lich ha long  tôn tạo miếu Hòn Bà là nhằm đáp ứng nhu cầu của ngành du lịch, góp phần xây dựng cảnh quan đô thị nói chung và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân trước sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, đánh thức một sản phẩm du lịch tiềm năng, góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa, du lịch của  tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.